925 Lượt xem

Tản mạn về Phục Sinh.

HOẠT ĐỘNG GIÁO XỨ

Phục Sinh, theo Thánh Phaolô, là rường cột nâng đỡ đức tin ta. Đức tin này tất nhiên là một hồng ân, nhưng nó luôn cần được nâng đỡ, bằng bất cứ phương tiện nào: lịch sử, triết lý, thần học, địa dư, khảo cổ, văn chương, thi ca, hội họa, dân ca, thánh nhạc, phụng vụ, điêu khắc…, bất cứ phát kiến nhân bản nào.

Chuyện tản mạn về nó, vì thế thật đa dạng.

PhucSinh_vinhhien

 I. Năm luận chứng về Phục Sinh

 

Tân Ước bao gồm nhiều trình thuật thuộc thế kỷ thứ nhất, chắc chắn là đầu tay, về cuộc đời, sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Nó cũng cho rằng mình là trình thuật mắt thấy tai nghe và đưa ra nhiều lập trường mạnh bạo về điều mình nghe và trông thấy. Và các cử tọa thế kỷ thứ nhất tin các trình thuật này, sao chép chúng, và loan truyền chúng cả bằng bản văn lẫn truyền khẩu ra khắp Đế Quốc Rôma và cả những nơi xa xăm như Ấn Độ.

Như thế, hẳn nhiên Tân Ước đã nhận được một mức độ khả tín nhất định nào đó. Tuy nhiên, điều này chưa tùy thuộc việc người ta tiên thiên giả thiết rằng Thánh Kinh là Sách Thánh và do đó được linh hứng; họ chỉ đơn thuần tiếp cận nó như tiếp cận bất cứ bản văn lịch sử nào khác, vì rõ ràng nó biện luận cho những điều thuộc lịch sử mới đó, chứ không thuật lại một dã sử đã có từ lâu đời.

Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày các Kitô hữu có truyền thống tưởng niệm sự chết của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, quả là ngày thích hợp để ta xem sét các chứng cớ quanh sự chết và sự sống lại của Người. Thiển nghĩ năm điển hình sau đây đáng chúng ta khảo sát.

  1. Mồ hôi biến thành máu

jesus_christ_in_getsemani

Trong cảnh hấp hối tại vườn Cây Dầu, Thánh Luca (22:4) viết rằng mồ hôi của Chúa Giêsu nhỏ xuống “như những giọt máu”. Đây là tình trạng y khoa gọi là hematohidrosis (đổ mồ hôi máu), một tình trạng được Tạp Chí Bệnh Ngoài Da của Ấn Độ coi là rất họa hiếm. Nó xẩy ra khi bị căng thẳng tột độ nơi một số ít người. Thánh Luca vốn là một y sĩ (như Thánh Phaolô nhắc tại Côlôxê 4:14), nên có lẽ đây là lý do tại sao Tin Mừng của ngài là Tin Mừng duy nhất lưu ý tới sự kiện này, dù nó rất hiếm xẩy ra trong ngành chăm sóc bệnh nhân hồi đó.

Như thế, điều đáng lưu ý là nguồn của thế kỷ thứ nhất này đã mô tả được một tình trạng y khoa lúc ấy gần như không ai biết tới, nhưng nay ta biết có liên hệ với căng thẳng. Nghĩa là, nguồn này mô tả một tín liệu mà ngài khó lòng có thể tự chế ra, vì dù ngài có biết đôi chút về tình trạng đổ mồ hôi máu này đi chăng nữa, thì tại sao ngài lại bao gồm chi tiết ấy ở đây? Muốn thuyết phục các nhà chuyên môn khác về bệnh ngoài da ở thế kỷ thứ nhất chăng? Đây là một chi tiết rõ ràng siêu nhiên và khó tin, đâu phải là một chitiết tự nhiên và dễ tin… ấy thế nhưng ngày nay ta biết nó phù hợp với y khoa hiện đại. Điều cho thấy chứng cớ của Thánh Luca là chính xác: quả tình có một vị Giêsu thành Nadarét đích thực, Đấng đã đổ mồ hôi máu khi chờ đợi bị đóng đinh.

  1. Máu và nước chẩy ra từ cạnh sườn Chúa Kitô

 thanh-tam-chua

Tin Mừng Gioan chương 19 cho ta một chi tiết đẫm máu nữa trong trình thuật của nó vào lúc sau khi Chúa Giêsu đã qua đờ (Ga 19:31-37):

“Hôm đó là ngày áp lễ, người Do thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sabát, mà ngày sabát đó lại là ngày lễ lớn. Nên họ xin ông Philatô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Ðức Giêsu. Khi đến gần Ðức Giêsu và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra. Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin. Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: ‘Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập’. Lại có lời Kinh Thánh khác: ‘Họ sẽ nhìn lên Ðấng họ đã đâm thâu’”.

Đoạn trên đầy những bằng chứng. Thứ nhất, soạn giả rất quen thuộc với các thực hành tôn giáo của người Do Thái. Ở câu 31, ngài viết: “Hôm đó là ngày áp lễ, [và ngày hôm sau là] ngày Sabát, mà ngày Sabát đó lại là ngày lễ lớn”. Có ý nói tới Lễ Vượt Qua và giải thích lý do tại sao các môn đệ của Chúa Giêsu mừng Lễ Vượt một ngày trước người Biệt Phái. Đây là một trường phái của Do Thái Giáo chuyên giữ Lễ Vượt Qua sớm hơn một ngày khi nó rơi vào ngày Sa bát.

Thứ hai, soạn giả biết rõ việc xác phải được tháo xuống, theo luật sạch sẽ của bộ luật Lêvi.

Thứ ba, soạn giả rất quen thuộc với việc đóng đinh. Thí dụ, ngài biết rõ người Rôma có thói quen đập xương ống chân nạn nhân lúc còn ở trên thập giá, lý do là không có sức nâng của ống chân, nạn nhân không thể nâng thân xác lên để thở được nữa, và họ sẽ từ từ chết vì ngẹt thở. Dù xem ra có vẻ phản trực giác, thiếu dưỡng khí chính là điều giết chết nạn nhân bị đóng đinh, chứ không phải đinh thâu qua tay chân.

Thứ tư, soạn giả nhiều lần nhắc tới việc nên trọn của Thánh Kinh. Xương của Chiên Vượt Qua không bị đánh dập (Xh 12:46; Ds 9:12), xương của Đấng Được Xức Dầu cũng không bị đánh dập (Tv 34:20). Và có lời tiên tri giống Thiên Chúa cách lạ lùng tại Dcr 12:10 rằng Đấng Được Chọn “sẽ đổ ơn xuống cho nhà Ða-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem, giúp chúng biết sống đẹp lòng Ta và tha thiết cầu nguyện. Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta. Chúng sẽ khóc than Ðấng chúng đã đâm thâu, như người ta khóc than đứa con một. Chúng sẽ thương tiếc, như người ta thương tiếc đứa con đầu lòng”.

Vì các Kitô hữu vốn tin Chúa Kitô là Con duy nhất của Chúa Cha (Ga 3:16), nên chi tiết trên đã ứng nghiệm mọi lời tiên tri khó hiểu. Nếu cho là dễ, thì bạn hãy thử mà coi: hãy thử viết một câu truyện hư cấu ngắn về một người nào đó sống ở đời này mà lại ứng nghiệm mọi lời tiên tri trong Thánh Kinh, và làm câu truyện có thể tin được.

Cuối cùng, và điều này hết sức đáng lưu ý: máu và nước rất thích hợp với chứng cớ y khoa. Sau khi Chúa Giêsu chết, thân xác Người ngưng không biến hóa nước nữa, nên một vết giáo đâm ngược lên sẽ dễ dàng làm rách màng dạ dầy, khiến máu và nước tuôn ra. Thánh Gioan minh nhiên nhắc tới chi tiết này, nhưng chi tiết này là chi tiết mà một văn sĩ hư cấu khó có thể nghĩ tới, ngoại trừ ông ta mở toang xác người chết, một việc người Do Thái bị cấm không được làm.

Như thế, từ trước tới nay, chúng ta có đủ bằng chứng đáng tin rằng có một Vị Giêsu biết mình đang đi tới thập giá, nhưng vẫn đi, và bị giết. Cả Thánh Luca lẫn Thánh Gioan đều nhắc tới các chi tiết chuyên biệt về y khoa khó lòng tạo hoẹt được. Tất cả những điều này cho thấy Chúa Giêsu quả là người có thực, chết thực sự trên thập giá. Còn cả hàng tá các câu khác hỗ trợ điểm vừa nói, ngoài các câu trên. Các nguồn ngoài Thánh Kinh cũng nhìn nhận rằng có một vị Giêsu chết trên thập giá.

  1. Ngôi mộ bị canh giữ

images

Tin mừng Mátthêu 27:62-66 ghi nhận một chi tiết quan trọng:

“Hôm sau, tức là khi ngày áp lễ đã qua, các thượng tế và những người Pharisêu kéo nhau đến ông Philatô, và nói: ‘Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: Sau ba ngày, Ta sẽ chỗi dậy. Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắm đến lấy trộm hắn đi, rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết chỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp bợm cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước’. Ông Philatô bảo họ: ‘Thì có sẵn lính đó, các người hãy đi mà canh giữ theo cách các ngươi biết!’ Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá và cắt lính canh mồ”

Trình thuật trên cho ta nhiều tên và ngày chuyên biệt: Philatô, thầy cả thượng phẩm, và những người Biệt Phái; còn ngày thì là ngày sau Ngày Áp Lễ (nghĩa là Ngày Vượt Qua). Như thế, Thánh Mátthêu công khai tố cáo cả giáo quyền lẫn chính quyền cho đặt lính canh bên ngoài ngôi mộ của Chúa Giêsu. Ta có tin rằng ngài vu cáo họ trong khi họ vẫn còn sống không? Nhưng ta biết, từ một chi tiết khác, rằng không hề có bất cứ tranh cãi nào về việc ngôi mộ có bị canh giữ hay không… chỉ nói các lính canh đã xử lý tình thế kém cỏi như thế nào.

Tin Mừng Mátthêu 28:11-15 cho ta biết nửa câu truyện còn lại:

“Các bà đang đi, thì kìa mấy người trong đội lính canh mồ vào thành báo cho các thượng tế biết mọi việc đã xảy ra. Các thượng tế liền họp với các kỳ mục; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn, và bảo: ‘Các anh hãy nói như thế này: Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm hắn đi. Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự’. Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy. Câu chuyện này được phổ biến giữa người Dothái cho đến ngày nay”.

Một lần nữa, ta nên nhớ khi Thánh Mátthêu viết, ngài biết điều mình viết, khi nói tới việc các tin đồn còn được phổ biến “cho đến tận nay” về các lính canh. Bởi thế, ta biết ngôi mộ quả bị canh gác, không còn hoài nghi gì nữa.

  1. Chúa Giêsu hiện ra bằng xương bằng thịt và ăn uống trước mặt các ông

1a1 2psa_2_0

Trong Tin Mừng Luca (Lc. 24:36-43), ta thấy một trong các cuộc hiện ra sau khi Chúa Giêsu phục sinh:

“Các ông còn đang nói, thì chính Ðức Giêsu đứng giữa các ông và bảo: ‘Bình an cho anh em!’ Các ông kính hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói: ‘Sao anh em lại hoảng hốt? Sao còn ngờ vực trong lòng? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?’ Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. Vì mừng quá, các ông vẫn chưa tin và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi: ‘Ở đây anh em có gì ăn không?’ Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông”.

Đó là một trong những lần hiện ra quan trọng nhất sau Phục Sinh, xét về mặt luận lý. Mười một tông đồ của Chúa Giêsu đang tụ họp, thì nhìn thấy một ai đó hiện ra với họ, và họ không biết chắc đó là Chúa Giêsu sống lại hay một bóng ma. Do đó, họ muốn được Người chứng tỏ. Hay đúng hơn, chính Người giơ tay chân của Người ra để các ông rờ mó. Rồi, Người cầm miếng cá của họ và ăn.

Với họ, Người chứng minh Người không phải là một bóng ma. Với chúng ta, điều ấy cũng bác bỏ giả thuyết bị ảo giác. Ảo giác hoặc thuộc thính giác, hoặc thuộc thị giáo hay xúc giác. Nghĩa là, người ảo giác thấy hoặc nghe hay cảm thấy một điều gì không có thực. Có những trường hợp ảo giác liên quan tới hơn một giác quan, dù chưa bao giờ thấy một trường hợp ảo giác nào bao gồm cả ba giác quan vừa kể. Về phương diện y khoa, chắc chắn không có chuyện cả 11 người cùng một lúc có ảo giác tập thể thấy, nghe và rờ vào một vật gì đó không có thực.

Thành thử giả thuyết ảo giác bị loại. Lại còn chuyện Chúa Giêsu ăn cá nữa. Không thể nào ảo giác được. Mà dù cho bị ảo giác đến nỗi cả mười một tông đồ cùng một lúc bị thứ ảo giác quái đản kia hành đi nữa, thì vẫn không giải thích được việc miếng cá đi đâu. Họ có miếng cá đó, họ thấy Người ăn, rồi miếng cá ấy không còn nữa. Và nên nhớ, họ có con cá ấy với họ, chứ không phải họ ảo giác về con cá.

Như thế, một là các tông đồ nói láo hai là họ thực sự thấy Chúa Kitô phục sinh. Không phải họ kể lại một dã sử đạo đức hay mù mờ về điều họ trông thấy. Họ không thể lầm tưởng một điều gì khác khi thấy, nghe và cảm nhận Chúa Giêsu phục sinh và ngắm Người ăn.

Và cuối cùng

  1. Ngôi mộ trống

 images (1)

Trong Công Vụ 2, trong một buổi lễ ở Giêrusalem, Thánh Phêrô đứng lên và lớn tiếng tuyên xưng rằng Chúa Giêsu Kitô đã sống lại, và ngôi mộ của Người trống trơn. Quá sớm về lịch sử để Thánh Luca tạo ra câu truyện bài diễn văn của Thánh Phêrô, và cũng quá sớm để Thánh Phêrô nói láo về chỗ nằm của xác Chúa Giêsu. Dù sao, ngôi mộ của Người không nằm xa ba nhiêu, và những người đặt Người ở đó chắc chắn vẫn còn ở trong thành phố. Hơn nữa, như đã nói trên đây, còn có những lính canh có mặt tại ngôi mộ, họ sẵn sàng hướng dẫn kẻ tò mò tới đó tìm hiểu.

II. Kết luận

Tóm lại, ta biết rằng (1) thực sự có một vị Giêsu Kitô bị đóng đinh; (2) Người thực sự chết trên thập giá; (3) có những lời đồn về phục sinh, nên lính canh đã được đặt ở ngoài ngôi mộ; (4) các môn đệ của Người nói rằng đã thấy Người, nói chuyện với Người và rờ thấy Người trong hình thức phục sinh ngay sau khi Người qua đời, và ngồi ngắm Người ăn; và (5) ngôi mộ của Người trống trơn.

Tất cả các điểm trên mạnh mẽ chứng minh sự kiện Chúa Giêsu đã phục sinh. Chắc chắn đó là câu giải đáp được các môn đệ của Người tuyên xưng là đúng. Và họ sẵn sàng chịu chết vì lời tuyên xưng này. Sự sẵn sàng này ít nhất cũng chứng tỏ rằng đối với họ, lời tuyên xưng này chân thực. Nghĩa là họ không nói láo. Dĩ nhiên, sẵn sàng chết cho một chủ trương không hề bảo đảm chủ trương này chân thực, nhưng nó mạnh mẽ chứng tỏ người có chủ trương này nghĩ nó đúng. Không một môn đệ nào rút lui sau khi Chúa Giêsu qua đời, dù mọi vị, trừ thánh Gioan, đều tử đạo vì việc này. Và ta nên nhớ: những người này đều như một và tất cả đều là những người Do Thái Giáo ngoan đạo, họ tuyên xưng rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa Chân Thật Duy Nhất.

Ngoài lý do trên, không một lối giải thích nào khác có nghĩa cả, nhất là xét cả 5 lý chứng trên. Nghĩa là, dù cho các tông đồ ảo giác về Chúa Giêsu trong lý chứng (4), thì sao lại có ngôi mộ trống (5)? Còn lý thuyết “ngất đi”, nghĩa là Chúa Giêsu thực sự không chết, giải thích được (5), nhưng khiến cho (3) và (4) vô nghĩa vì nên nhớ Chúa Giêsu hiện ra mà không đi qua cửa, và lý thuyết này trực tiếp mâu thuẫn với (2) và lương tri.

Xét như một toàn thể, tất cả các chứng cớ trên cho thấy gần hai ngàn năm trước đây, Chúa Giêsu thành Nadarét đã chịu đóng đinh, chịu chết và sống lại vào ngày thứ ba, như Giáo Hội Công Giáo vốn dạy từ đó.

  1. Một phục sinh thiết thân

Dù các Kitô hữu ai cũng tin câu truyện Phục Sinh, nhưng nối kết nó một cách thiết thân là điều không dễ. Các biến cố ta nghe trong Tam Nhật Vượt Qua dường như không ăn uống chi với cuộc sống hằng ngày. Nhưng phải chăng các trình thuật này và câu truyện Chúa phục sinh không hề giao thoa chi với thế giới hiện nay? Thánh Phaolô cho ta hay “không bao giờ như thế cả!” Mỗi khoảnh khắc của tam nhật đều mang lại cho ta những tầm nhìn thấu suốt vào chính thế giới đương thời và cuộc sống hiện nay.

Thứ Năm Tuần Thánh. Câu truyện Bữa Tối Cuối Cùng là một lời mời người Công Giáo suy niệm việc Chúa Giêsu thiết lập Phép Thánh Thể. Nhưng Tin Mừng Gioan, mà người Công Giáo được nghe vào Thứ Năm Tuần Thánh năm nay, tập chú vào một biến cố khác: rửa chân. Các học giả Thánh Kinh ngày nay đang tranh luận say sưa về việc liệu việc rửa chân nên được hiểu như một tấm gương “phục vụ khiêm nhường” (Raymond E. Brown, S.S.) hay như việc khai mở “cộng đoàn những người bình đẳng” (Sandra M. Schneiders, I.H.M.). Nhưng có lẽ cả hai cách hiểu đều đúng, và cả hai mô thức đều chủ yếu đối với người môn đệ hiện thời. Cộng đồng những người bình đẳng đòi việc phục vụ khiêm nhường, cả cho anh chị em ta trong Giáo Hội lẫn cho toàn thế giới. Và như Chúa Giêsu đã chứng tỏ khi Người rửa chân cho các môn đệ, phục vụ anh chị em ta đòi ta phải tiếp xúc thực sự, nghĩa là, bao gồm cả tiếp xúc thể lý nữa. Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng cho ta hay: cho người nghèo tiền chưa đủ, “nếu anh chị em không đụng tới họ, anh chị em chưa gặp gỡ họ”. Chính vì thế, ngài đã tới rửa chân cho các tù nhân của Nhà Tù Rebibbia: không rửa qua loa, mà là rửa cả bàn chân và dùng khăn lau sạch cả bàn chân ấy và trịnh trọng hôn lên nó, bất kể đó là bàn chân của ai, của đàn ông (6 người), của đàn bà (cũng 6 người), của người oan của người đáng bị tù… Còn có gì nói rõ hơn ý nghĩa bình đẳng? Và ý nghĩa phục vụ khiêm nhường?

Thứ Sáu Tuần Thánh. Các đau đớn của Chúa Giêsu thật độc nhất vô nhị: người thợ mộc Nadarét là người vô tội duy nhất chịu đau khổ. Nhưng những loại đau khổ mà Chúa Giêsu chịu trong cuộc Khổ Nạn của Người cũng đang được nhiều người nam nữ và trẻ em trên khắp thế giới chịu đựng: bách hại, tra tấn, giam tù và hành quyết. Bi thảm thay, một chính phủ tự nhận là dân chủ và tự do như Hoa Kỳ cũng vẫn đồng lõa trong việc tra tấn, tại các phòng giam đen tối ở Abu Ghraib và nhiều nhà tù khác của chính phủ. Chúa Giêsu bị giam giữ nhưng 1.5 triệu đàn ông đàn bà cũng đang bị giam giữ tại Hoa Kỳ, một tỷ lệ không quốc gia phát triển nào khác “địch nổi”. Còn án tử hình nữa, một án mà viên chức Tòa Thánh tại Liên Hiệp Quốc vừa chính thức tuyên bố đi ngược lại giáo huấn Công Giáo, đã tìm được nạn nhân nổi danh nhất nơi Chúa Giêsu Kitô.

Một cách tổng quát hơn, tử đạo và những khủng khiếp kèm theo không phải là việc của quá khứ. Ta chỉ cần nhìn qua Trung Đông đủ để chứng kiến cảnh bách hại dã man các cộng đồng Kitô hữu, nhiều cộng đồng rất cổ xưa, bởi tay Nhà Nước Hồi Giáo Trị. Ngày nay, bằng quá nhiều cách, Chúa Kitô vẫn tiếp tục đau khổ trong nhiệm thể của Người.

Thứ Bẩy Tuần Thánh. Đây là ngày của những giấc mơ tan tành. Các môn đệ trốn sau cửa khép then cài, khiếp đảm sợ bị phát giác và xử tử. Dù sao, lãnh tụ của họ cũng vừa bị hành quyết một cách nhục nhã như chưa bao giờ tưởng tượng nổi. Hy vọng xem ra đã vỡ tan. Qúa nhiều tình huống trên thế giới (như các đe dọa của Nhà Nước Hồi Giáo Trị) xem ra chẳng còn chút hy vọng nào. Trên một bình diện địa phương hơn, chính phủ Hoa Kỳ đang bị kẹt cứng vào một tắc nghẽn vĩnh viễn. Chính phủ này có khả năng đưa ra được các biện pháp nghiêm túc để trợ giúp người nghèo, tu sửa hạ tầng cơ sở đang suy sụp và cải thiện hệ thống giáo dục đang dao động không? Trong Giáo Hội của ta, thì có vấn đề phải liên tục giải quyết di sản lạm dụng tính dục; nhiều người còn cảm thấy giáo dân vẫn còn bị cấm cản không được đảm nhận các chức vụ lãnh đạo và có thẩm quyền theo định chế. Chỉ cần nghĩ tới các thách đố này cũng đã thấy bị ngột ngạt rồi. Tuy nhiên, các môn đệ Chúa vẫn được mời gọi hy vọng dù giữa mù mờ và thất vọng. Vì họ khám phá ra rằng thất vọng không bao giờ là đáp án cả.

Chúa Nhật Phục Sinh. Các trình thuật Khổ Nạn sẽ vô nghĩa nếu không có Phục Sinh. Và chính ở đây, Sách Thánh giao thoa với đời sống ta cách mạnh mẽ. Đúng thế, chúng ta đau cái đau của thế giới tan vỡ, của giấc mơ tan tành và rõ ràng vô vọng. Nhưng Phục Sinh cho ta hay: đau khổ không bao giờ là lời nói cuối cùng, Thiên Chúa luôn là một Thiên Chúa của ngạc nhiên và không có gì là không thể đối với Người.

Một điển hình của đời sống mới hiện nay là triều giáo hoàng của Đức Phanxicô. Trước khi ngài được bầu, nhiều người cho rằng sẽ không có gì thay đổi trong Giáo Hội; thậm chí không nên thay đổi nữa. Nhưng khi nhậm chức, ngài đã đem tới một lối sống, một giọng điệu và một sự rõ ràng mới cho chức vụ giáo hoàng, mở ra nhiều phương cách mới để hoán cải và đưa ra quyết định, nói với người ta một cách mới mẻ và trực tiếp và lôi cuốn nhiều người từ lâu vốn coi Giáo Hội như không còn dính dáng gì tới họ nữa. Các hành động của ngài hướng chúng ta về Đấng Sống Lại, nguồn sự sống mới. Vì quả Chúa Kitô đã sống lại, đang sống và đang hoạt động trong hế giới chúng ta!

III. Tình yêu nhận ra Chúa Phục Sinh

 

Tình yêu lúc nào cũng làm ta vui thích: không gì vui bằng nhìn thấy hai người yêu nhau. Thế giới liên tiếp yêu thương và bênh vực những kẻ yêu nhau. Các truyện tình tràn ngập màn ảnh rạp hát, màn ảnh truyền hình và những tác phẩm bán chạy nhất. Ấy thế nhưng đồng thời thế giới hiện đại lại thường tin rằng tình yêu là mù quáng. Trong cái cuồng nhiệt của tình yêu, những kẻ yêu nhau mất cả khả năng nhìn sự vật như chúng thực sự là.

Tuy nhiên, không phải ai ai cũng chấp nhận thiên kiến trên. Thánh Augustinô từng viết: “hãy cho tôi một người yêu, và anh ta sẽ hiểu”. Vị thánh này hiểu rõ: cần một tình yêu sâu sắc mới mở được mắt ta và giúp ta nhìn thấy sự thật. Trái tim có những lý lẽ riêng. Thiên tài và thần học gia Blaise Pascal, khoảng 10 thế kỷ sau, cũng viết như thế. Tình yêu giúp ta biết và chia sẻ thực tại.

Trong hai tiểu truyện Ga 20:2-10 và Ga 21:1-14, người môn đệ yêu dấu đã được tình yêu huyền nhiệm dẫn dắt tới chỗ nhận ra Chúa Giêsu thực sự sống lại từ cõi chết. Ông bước vào ngôi mộ trống, thấy khăn liệm và tin (20:8). Tình yêu giúp người môn đệ yêu dấu lập tức kết luận rất đúng rằng Chúa Giêsu đã sống lại và đang sống.

Trong tiểu truyện thứ hai, người môn đệ yêu dấu là một trong bẩy môn đệ thức suốt đêm đánh cá trên Biển Hồ Tiberias. Tảng sáng, họ nhìn qua làn nước thấy người lạ gọi họ từ trên bờ. Nhưng tình yêu đã giúp người môn đệ yêu dấu nhận diện người đó là ai đang tới gặp họ vào lúc bình minh. “Chúa đó” (21:7). Một lần nữa, tình yêu lại đem ông tới chỗ biết sự thật và nhận ra Chúa Giêsu phục sinh.

Người môn đệ nhìn ngôi mộ trống và vươn tới đức tin vào Chúa phục sinh. Ông nghe giọng nói vào lúc bình minh vọng từ bờ hồ và biết mình đang ở trước mặt Chúa Giêsu. Cuộc sống ta không biết có bao nhiêu thị kiến và âm thanh. Tình yêu có thể biến những thị kiến và âm thanh đó thành những khoảnh khắc trong đó ta kêu lên “Chúa đó”.

“Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một trái tim để yêu Chúa. Rồi chúng con sẽ thực sự thấy Chúa, gặp gỡ Chúa không ngừng, và tín thác vào Chúa”.

Cũng thế, Maria Magđalêna gặp được Chúa Giêsu sống động vì bà đã trở lại ngôi mộ tìm kiếm xác Chúa Giêsu. Nước mắt bà dàn dụa (20:11, 13, 15). Giờ đây, bà thấy 2 thiên thần ngồi trong mộ như những vệ binh danh dự. Bà không xin họ giúp đỡ hay hỏi thông tin gì cả, mà chỉ giải thích tại sao bà khóc rồi quay lưng đi. Trong cơn buồn sầu tang chế và đầy yêu thương, bà chỉ lo sao tìm được xác Chúa Giêsu mà “họ” đã lấy đi và chôn ở đâu đây.

Rồi Maria thấy “người làm vườn” đứng trong vườn bên ngoài ngôi mộ mới chôn xác Chúa Giêsu (19:41). Đó chính là Chúa Giêsu sống lại, Ađam mới khai mở sáng thế mới. Các họa sĩ như Fra Angélico và Rembrandt đã cảm thức được điều gì đó trong cuộc gặp gỡ này mà các thần học gia đã bỏ lỡ: tính vui chơi hân hoan. Họ diễn tả Chúa Giêsu mang nón người làm vườn hay với dụng cụ trên vai. Sự hóa trang của Người đã làm chậm việc nhận ra Người trong giây lát.

Maria tưởng “người làm vườn” di chuyển xác Chúa Giêsu nhưng dù thế vẫn mong được ông sẵn lòng giúp mình: “Thưa ông, nếu ông di chuyển Người đi, xin ông cho tôi hay ông chôn Người ở đâu, để tôi lấy Người đi”. Thế rồi, chỉ với một lời thôi, Chúa Giêsu đã thay đổi đời bà. Người gọi bà đích danh “Maria”.

Tin Mừng Gioan đã khai thác khá nhiều về nỗi sầu buồn của Maria đối với việc mất xác Chúa Giêsu. Bà khóc lúc ở ngoài mộ; bà khóc lúc cúi nhìn vào mộ. Hai thiên thần rồi chính Chúa Giêsu phục sinh đã hỏi cho biết lý do bà khóc. Giờ đây, thì bà biết Người đang sống một cách vinh hiển. Nhưng ngoài việc nói rằng bà quấn quít với Chúa Giêsu ra, Tin Mừng không cố gắng lột tả niềm vui của bà bằng lời. Với việc phục sinh Lazarô cũng thế. Thánh Gioan ghi nhận các dòng nước mắt và nỗi buồn sầu của Mácta, của Maria và của chính Chúa Giêsu đối với cái chết của Lazarô (11:19, 31), nhưng thận trọng không diễn tả niềm hạnh phúc của các vị đối với việc ông sống lại.

Trong Tin Mừng Gioan, không cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu nào khác sánh được sự tương phản giữa kỳ vọng của Magđalêna và kết cục của nó. Bà chỉ mong được giúp đỡ tìm ra một xác chết bị mất. Nhưng thay vào đó, bà học được điều này: sự chết không hề có bất cứ quyền lực sau cùng nào đối với Chúa Giêsu và bà có nhiệm vụ mang tới cho các môn đệ tin vui tối hậu này: “Tôi đã thấy Chúa”.

 

Vũ Văn An

GỢI Ý BẠN ĐỌC

BQT GX Hòa Mỹ
Giới Trẻ Giáo Xứ Hòa Mỹ hy vọng sẽ nhận được nhiều bài viết góp ý từ tất cả mọi người để cung cấp kênh thông tin chính thức về xứ đạo, giáo hội đến tất cả bạn đọc

Bình luân với mạng xã hội

GỬI BÀI VIẾT